VAZAI VTD - Clip Việt Nam: Từ Thời Đại Hùng Vương Đến Thời Đại Hồ Chí Minh

🇻🇳 VAZAI VTD - Clip "Việt Nam: Từ Thời Đại Hùng Vương Đến Thời Đại Hồ Chí Minh"
🏪
Thời Đại Hùng Vương - Nước Văn Lang
Khoảng 2879 - 258 TCN (theo truyền thống)
18 đời Vua Hùng dựng nước Văn Lang, kinh đô Phong Châu (Phú Thọ ngày nay). Cột mốc mở đầu lịch sử dựng nước của dân tộc Việt.
✨ Đặc trưng: Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương (Giỗ Tổ 10/3 âm lịch) được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2012 - biểu tượng cội nguồn "con Rồng cháu Tiên".
🛡️
Nước Âu Lạc - An Dương Vương
258 - 179 TCN
Thục Phán lên ngôi An Dương Vương, hợp nhất Âu Việt và Lạc Việt, xây thành Cổ Loa - công trình quân sự nổi tiếng với thần thoại nỏ thần.
✨ Đặc trưng: Thành Cổ Loa là công trình kiến trúc quân sự - phòng thủ cổ nhất còn dấu tích rõ ràng tại Việt Nam, với kết cấu 3 vòng thành xoáy trôn ốc độc đáo.
⛓️
Thời Kỳ Bắc Thuộc
179 TCN - 938 SCN
Hơn 1000 năm dưới ách đô hộ phong kiến phương Bắc, xen kẽ nhiều cuộc khởi nghĩa giành độc lập: Hai Bà Trưng (40), Bà Triệu (248), Lý Bí (544), Mai Thúc Loan, Phùng Hưng...
✨ Đặc trưng: Dù bị đô hộ hơn 1000 năm, tiếng Việt và bản sắc văn hóa dân tộc không bị đồng hóa hoàn toàn - một hiện tượng hiếm có trong lịch sử thế giới, minh chứng sức sống bền bỉ của dân tộc.
⚓️
Chiến Thắng Bạch Đằng - Ngô Quyền
938
Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, chấm dứt hơn 1000 năm Bắc thuộc, mở ra kỷ nguyên độc lập tự chủ lâu dài cho dân tộc.
✨ Đặc trưng: Trận địa cọc ngầm trên sông Bạch Đằng là chiến thuật quân sự độc đáo, lợi dụng thủy triều - sau này được Trần Hưng Đạo tái sử dụng thành công năm 1288 để đánh bại quân Nguyên Mông.
👑
Nhà Đinh - Tiền Lê
968 - 1009
Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, lập nước Đại Cồ Việt, đặt nền móng nhà nước phong kiến tập quyền đầu tiên của Việt Nam độc lập.
✨ Đặc trưng: Lần đầu tiên trong lịch sử, Việt Nam có một nhà nước phong kiến tập quyền hoàn chỉnh mang quốc hiệu riêng (Đại Cồ Việt), đặt nền móng thể chế cho các triều đại sau này.
🏙️
Nhà Lý - Dời Đô Thăng Long
1009 - 1225
Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long (1010) qua "Chiếu dời đô" - đặt nền móng cho Thủ đô Hà Nội hơn 1000 năm sau. Thời kỳ Phật giáo hưng thịnh, văn hóa phát triển rực rỡ.
✨ Đặc trưng: Văn Miếu - Quốc Tử Giám (khởi lập 1070/1076) là trường đại học đầu tiên của Việt Nam, vẫn còn tồn tại tới ngày nay - biểu tượng cho truyền thống hiếu học của dân tộc.
⚔️
Nhà Trần - 3 Lần Đại Thắng Nguyên Mông
1225 - 1400
Ba lần đánh bại quân Nguyên Mông hùng mạnh nhất thế giới thời bấy giờ (1258, 1285, 1288), gắn liền tên tuổi Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và chiến thắng Bạch Đằng lần 2.
✨ Đặc trưng: Hội nghị Diên Hồng (1284) - vua Trần triệu tập các bô lão cả nước để hỏi ý kiến "nên hòa hay nên đánh", tất cả đồng thanh hô "Đánh!" — một hình thức tham vấn ý dân cực kỳ sớm, hiếm có trong lịch sử phong kiến thế giới.
🏜️
Nhà Hồ - Hồ Quý Ly - Thành Nhà Hồ
1400 - 1407
Hồ Quý Ly phế truất nhà Trần, lập nhà Hồ, đổi quốc hiệu Đại Ngu, dời đô vào Thanh Hóa. Cho xây thành đá Tây Đô (nay gọi Thành Nhà Hồ) - kỳ quan kiến trúc đá độc đáo bậc nhất Đông Nam Á, được UNESCO công nhận Di sản Văn hóa Thế giới năm 2011. Nhà Hồ có nhiều cải cách (tiền giấy, đo đạc ruộng đất) nhưng tồn tại ngắn ngủi, nhanh chóng sụp đổ trước cuộc xâm lược của nhà Minh (1407), mở đầu 20 năm Bắc thuộc lần thứ 4.
✨ Đặc trưng: Đây là triều đại duy nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam từng phát hành và lưu thông tiền giấy thay tiền đồng - một cải cách tài chính táo bạo, đi trước thời đại hàng trăm năm.
🗡️
Khởi Nghĩa Lam Sơn - Nhà Hậu Lê
1418 - 1428 (khởi nghĩa) / 1428 - 1527 (Lê sơ)
Lê Lợi cùng Nguyễn Trãi lãnh đạo khởi nghĩa Lam Sơn 10 năm, đánh đuổi quân Minh, lập nhà Hậu Lê. Thời Lê Thánh Tông (1460-1497) đạt đỉnh cao thịnh trị với bộ luật Hồng Đức.
✨ Đặc trưng: Bộ luật Hồng Đức là bộ luật tiến bộ bậc nhất Đông Nam Á thời đó, có nhiều điều khoản bảo vệ quyền lợi phụ nữ (quyền thừa kế, ly hôn) hiếm thấy trong luật phong kiến cùng thời.
⚖️
Trịnh - Nguyễn Phân Tranh
1627 - 1789
Đất nước chia cắt Đàng Trong - Đàng Ngoài dưới danh nghĩa vua Lê, thực quyền do chúa Trịnh (Bắc) và chúa Nguyễn (Nam) nắm giữ, kéo dài hơn 150 năm.
✨ Đặc trưng: Dù đất nước chia cắt, đây cũng là thời kỳ các chúa Nguyễn đẩy mạnh công cuộc "Nam tiến" - mở rộng lãnh thổ xuống đồng bằng sông Cửu Long, góp phần hình thành dải đất hình chữ S ngày nay.
🔴
Nhà Tây Sơn - Quang Trung Đại Phá Quân Thanh
1778 - 1802
Ba anh em Tây Sơn lật đổ cả chúa Trịnh lẫn chúa Nguyễn, thống nhất đất nước. Vua Quang Trung (Nguyễn Huệ) đại phá 29 vạn quân Thanh trong trận Ngọc Hồi - Đống Đa (Tết Kỷ Dậu 1789).
✨ Đặc trưng: Vương triều Tây Sơn sụp đổ rất nhanh chỉ vài năm sau khi vua Quang Trung mất đột ngột (1792) vì nội bộ lục đục, người kế vị còn nhỏ tuổi - một bài học lịch sử về tầm quan trọng của việc chuẩn bị người kế vị.
🏙️
Nhà Nguyễn - Triều Đại Phong Kiến Cuối Cùng
1802 - 1945
Nguyễn Ánh (vua Gia Long) thống nhất đất nước, đóng đô ở Huế. Triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam, dần rơi vào ách đô hộ của thực dân Pháp từ nửa sau thế kỷ 19.
⚠️ Ghi chú: Trong giai đoạn chiến tranh với Tây Sơn, Nguyễn Ánh từng cầu viện quân Xiêm (1784) và tranh thủ sự giúp đỡ của Pháp qua giám mục Bá Đa Lộc — sử sách gọi đây là "cõng rắn cắn gà nhà", bị nhiều sử gia xem là một trong những mầm mống gián tiếp mở đường cho Pháp xâm lược Việt Nam về sau.
⛓️
Thời Kỳ Pháp Thuộc
1858 - 1945
Pháp nổ súng xâm lược tại Đà Nẵng (1858), từng bước áp đặt chế độ thuộc địa trên cả nước. Nhiều phong trào yêu nước nổi dậy: Cần Vương, Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Xô Viết Nghệ Tĩnh...
✨ Đặc trưng: Giai đoạn 2 mặt của lịch sử - bên cạnh mất mát chủ quyền, đây cũng là lúc chữ Quốc ngữ, báo chí, trường học kiểu mới lan rộng, đặt nền móng cho nền giáo dục và văn học hiện đại Việt Nam sau này.
🛠️
Hồ Chí Minh Đọc Tuyên Ngôn Độc Lập
2/9/1945
Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - mở ra Thời Đại Hồ Chí Minh trong lịch sử dân tộc.
✨ Đặc trưng: Bản Tuyên ngôn mở đầu bằng việc trích dẫn cả Tuyên ngôn Độc lập Mỹ (1776) và Tuyên ngôn Nhân quyền - Dân quyền Pháp (1789) - kết nối khát vọng độc lập dân tộc với các giá trị phổ quát toàn nhân loại.
⚖️
Kháng Chiến Chống Pháp Và Chống Mỹ
1946 - 1975
Chiến thắng Điện Biên Phủ (1954) chấn động địa cầu, buộc Pháp rút quân. Tiếp sau là cuộc kháng chiến chống Mỹ kéo dài đến ngày 30/4/1975, thống nhất đất nước.
✨ Đặc trưng: Điện Biên Phủ là chiến thắng quân sự đầu tiên của một dân tộc thuộc địa châu Á trước một cường quốc thực dân châu Âu, được giới sử học quốc tế ghi nhận là dấu mốc thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới.
🌈
Đổi Mới - Việt Nam Hội Nhập Và Phát Triển
1986 - Nay
Công cuộc Đổi Mới từ Đại hội VI (1986) đưa Việt Nam từ nền kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng XHCN, hội nhập quốc tế sâu rộng, vươn mình cùng thời đại công nghệ - AI hôm nay.
✨ Đặc trưng: Từ một trong những nước nghèo nhất thế giới đầu thập niên 1990, Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất Đông Nam Á, gia nhập WTO (2007) và hàng chục hiệp định thương mại tự do.
1 / 16

VAZAI VTD - Xem Chi Tiết Từng Thời Đại (Việt-Anh)

🔎 Xem Chi Tiết Từng Thời Đại Việt Nam: Hùng Vương → Hồ Chí Minh

VAZAI LỊCH SỨC KHỎE AZ AI 2000-2050

VAZAI VuTienDuc AZ AI - Flag Counter - 150726

Flag Counter

VAZAI VuTienDuc (VTD) 7.1 - Kết Link 5 Blog 220726

🔗 VAZAI - Kết Nối 5 Blog

VAZAI VuTienDuc (VTD) 7.1 - DongThoiGian

VTD
DONG THOI GIAN - VU TIEN DUC
VAZAI VTD v7.1 - 2000 den nam 5000
2026
26
nam hanh trinh
19
den QHVTD 2045
8
moc thoi gian
2974
den nam 5000
VAZAI VTD v7.1 - 140626

VAZAI - 3 Blog - THANH ĐIỀU KHIỂN ĐỌC 070826

060813. Hội Z181: Kỉ Niệm 30 Năm Thành Lập. 30 Năm - Bấy Nghĩa Tình Mênh Mông (9-2009)


HỘI Z181: KỈ NIỆM 30 NĂM THÀNH LẬP NHÀ MÁY Z181


30 NĂM - BẤY NGHĨA TÌNH MÊNH MÔNG

Năm 1970, mùa hè, sau hơn 3 năm học sơ tán[1] và hơn một năm học tại Hà Nội, tôi tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Hà Nội, Khoa Vật lí, chuyên đề Vật lí Chất rắn, Bán dẫn với đề tài “Nghiên cứu hiện tượng cộng hưởng thuận từ điện tử...” (một đề tài nghiên cứu có cả lí thuyết và thực nghiệm trên máy mới nhất của Liên Xô lúc bấy giờ) dưới sự hướng dẫn của Thầy [Phạm Doãn Hân] và Thầy Đàm Trung Đồn. Đang nghỉ hè ở quê[2] thì các bạn cùng lớp lên nhà chơi và thông báo tin nóng hổi “xuống ngay Hà Nội, nhận quyết định vào Bộ đội”...
Sau khi dự Lớp huấn luyện Quân (sự) Chính (trị), ngày 02-11-1970, nhập ngũ tại Đại học Kĩ thuật Quân sự[3], chúng tôi được phân công về các đơn vị. Ngày 08-12-1970, tôi cùng 7 Anh Em khác về Viện Kĩ thuật Quân sự, 1 người về Máy tính, 3 người về Hóa, 1 người về Sinh, 3 người[4] về Phòng Nghiên cứu Điện tử B7 do Đại tá [Ngô Đức Thọ][5] đứng đầu. Anh [Lê Hoài Tuyên] về Tổ Điện tử, Anh [Nguyễn Quốc Thắng] và tôi về Tổ Vật liệu. Sau này còn Anh Lê Quốc Hùng (từ BTL Công an Vũ trang), Anh Đỗ Đức Chất (từ Cục Quản lí Xe)... và nhiều Anh Em từ đơn vị (Lê Thái Lai...) chuyển về.
Tổ Vật liệu do các Anh Đào Kim ĐứcNguyễn Cẩn Ruyện phụ trách, gồm các Anh Lê Đỗ Thái, Trần Đàm, Lê Đình Minh, Bùi Minh Tuấn, Chị Trần Thị Viễn. Tôi được Tổ phân công tìm hiểu về Đầu Nhậy cảm[6]. Mới ra trường, còn trẻ, chưa biết gì nhiều…
Ấn tượng đầu tiên: Nhiệm vụ mênh mông.
Nhưng được các Anh Chị lớn tuổi chỉ bảo, tôi nhanh chóng bắt tay vào công việc, tìm hiểu những kĩ thuật mới đang có trên chiến trường Việt Nam. Lúc này, một phương tiện chiến tranh mới nhất đang được thử nghiệm - đó là Bom điều khiển tự dẫn bằng tia Laser. Tài liệu rất ít, các tài liệu tham khảo bằng tiếng nước ngoài gần như không có, chỉ có vài trang ngắn gọn (do cơ quan tình báo cung cấp). Lãnh đạo Viện chỉ đạo, để hạn chế ảnh hưởng phá hoại của Bom Laser, dựa vào nguyên lí hoạt động của Bom, có thể dùng các biện pháp làm suy giảm tia dẫn đường hoặc dùng tia dẫn đường khác “kéo” Bom ra khỏi mục tiêu. Cả Tổ Vật liệu “loay hoay” tìm cách giải quyết, cuối cùng đề xuất phương án, được Lãnh đạo Phòng và Lãnh đạo Viện phê duyệt. Đúng 1 năm sau ngày về Viện, 08-12-1971, Tổ Laser gồm 3 người (Anh Lê Đỗ Thái là tổ trưởng, Anh Nguyễn Văn Thơi và tôi) lên đường vào 559, thử nghiệm giải pháp kĩ - chiến thuật hạn chế ảnh hưởng phá hoại của Bom Laser, tại Binh trạm 32 (Xê Băng Hiêng).
Khu vực Binh trạm 14 (Ta Lê) gặp nhiều khó khăn vì Bom Từ trường và có thể Bom Laser, chúng tôi được tăng cường đến đó. Anh Tuyên thuộc Tổ Từ trường (vào 559 trước tôi) gặp nhau tay bắt mặt mừng, cùng nhau “dạo” dọc sông Ta Lê tìm đầu điều khiển Bom Từ trường. Khi đỉnh Cao Sơn phát hiện có Bom Từ trường, Anh Tuyên lên đó xử lí.
Ngày 23-3-1971, khi đang theo dõi máy bay địch đánh phá khu vực ngầm Ta Lê, chúng tôi bị Bom phát quang nổ ngay cửa hang, mấy Anh Em hi sinh ngay, 1 anh cán bộ công binh bị thương nặng gẫy đùi, tôi bị sức ép. Ngày 26-3-1971, Anh Tuyên hi sinh anh dũng cùng Anh Nhiên (cán bộ công binh của 559) khi đang làm nhiệm vụ.
Mất mát đầu tiên: Thương tiếc mênh mông.
Kết thúc đợt công tác 6 tháng, chúng tôi về Hà Nội, tổng kết, viết tài liệu đi huấn luyện… Đầu hè năm 1972, một đêm, Đoàn do Phó Viện trưởng [Nguyễn Đình Năm], dẫn đầu có lệnh đột xuất đi Hữu Lũng, Lạng Sơn. Đến nơi, được tiếp nhận một “sản phẩm đặc biệt” từ trên trời rơi xuống, đó là Đầu điều khiển Bom Laser còn nguyên vẹn (bị ngứt ra khỏi thân bom khi đang rơi). Tôi được tham gia Tổ nghiên cứu do Anh [Ngô Đình Liêu] chỉ đạo, đóng trụ sở trong Thành (gần cơ quan Bộ Tổng Tham mưu). Mổ xẻ, suy nghĩ, trao đổi, tổng kết, viết tài liệu… thì có lệnh, chuẩn bị chuyển giao “sản phẩm đặc biệt” để Lãnh đạo cấp cao tặng Đoàn đại biểu cấp cao Liên Xô. Sau này, được biết, các kết quả nghiên cứu của ta, trùng với các kết quả nghiên cứu của Liên Xô (chuyển cho ta).
Kỉ niệm khó quên: Kết quả mênh mông.
Theo hướng dẫn của Anh Trần Văn Châu, tôi được phân công viết bài báo đầu tiên của mình “Đầu nhậy cảm trong kĩ thuật quân sự” trong Tập san Kĩ thuật Quân sự. Năm 1973, ngày 15-6, tuyên thệ trước cờ và ảnh Lãnh tụ, tôi được đứng trong hàng ngũ của Đảng quang vinh. Những năm tiếp theo, được giao nhiệm vụ nghiên cứu quang dẫn, làm quang trở, ẩm trở… Tôi vẫn nhớ Anh Cao Lan, các Anh các Chị Tổ Quang dẫn những ngày gắn bó: Võ Hòa Bình, Lê Thành Công, Nguyễn Thị Dung, Lê Đình Đạo, Phạm Văn Hoài, Lê Thái Lai, Phan Thu Lương, Dương Thanh Mai, Nguyễn Phương Nga, Nguyễn Thị Ngữ, Đỗ Thế Nhuận, Bùi Hồng Thắng, Nguyễn Nguyệt Tĩnh, Trần Đại Tuất… Lần đầu tiên được vào Lăng Bác, tham quan hầm kĩ thuật của Lăng.
Cảm xúc khó quên: Tổ quốc mênh mông.
Năm 1979, thành lập Nhà máy Z181, tôi được giao nhiều nhiệm vụ tại Phân xưởng Điốt A7, Đoàn thực tập nghiên cứu - sản xuất Bán dẫn - Vi điện tử tại Tiệp Khắc, Phân xưởng Tranzito A5, Phòng Kinh tế - Kế hoạch - Điều độ B4… Tôi vô cùng biết ơn tập thể Anh Chị Em cán bộ, công nhân tập trung suy nghĩ, kịp thời đề xuất và tích cực thực hiện các giải pháp kĩ thuật, kinh tế và quản lí hành chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Đó là các Anh, các Chị:
Trần Hồng Hoa, [Phạm Hạnh Lợi], Thẩm Ngọc TúTrần Viết… Phân xưởng Điốt A7 chủ động đề xuất phương án cải tạo mặt bằng để hợp lí hoá dây chuyền sản xuất.
Nguyễn Huy Bình, Trần Bình, Bùi Thức Châu, [Hà Ngọc Châu], [Vũ Khắc Cường], Nguyễn Văn Đạch, Dư Khắc Hà, Phạm Tuấn Hà, Đinh Trọng Hoàn, Nguyễn Quang Huân, Phạm Giang Linh, Nguyễn Đức Long, [Phạm Hạnh Lợi], Nguyễn Tuyết Mai, Nguyễn Đôn Nguyên, Trần Mạnh Phúc, Nguyễn Minh Quân, Nguyễn Quang Toàn… Đoàn thực tập tại TESLA Piešt’any (Tiệp Khắc) luôn duy trì họp Đoàn vào tối Chủ nhật hàng tuần (để trao đổi kinh nghiệm và quản lí quân số), hàng tháng báo cáo kịp thời với Nhà máy qua Thương vụ tại Praha. 
Trịnh Văn Bột, Lê Thuý Hà, Nguyễn Thị Hôm, Nguyễn Lan Hương, Phạm Thanh Hương, Phạm Thu Hương, Trần Đình Lí, Lương Minh Nguyệt, Trần Đức Sông, Nguyễn Hồng Toàn, Đỗ Quang Xuyền... Phân xưởng Tranzito A5 chủ động đề xuất phương án tính Lương sản phẩm trong dây chuyền sản xuất Tranzito xuất khẩu. 
Trần Hữu Bình, [Võ Quốc Công], Trịnh Đức Cường, Hoàng Văn Điền, Phạm Văn Hải, Phan Văn Hùng, Ngô Thị Tân, Nguyễn Hồng XuânPhòng tham mưu B4 bám sát kế hoạch, điều chỉnh tiến độ nghiên cứu và sản xuất, đề xuất phương án kinh tế…
Tôi vô cùng biết ơn Đảng uỷ và Lãnh đạo Nhà máy luôn giáo dục, giúp đỡ, động viên tôi lúc khó khăn. Đó là các Bác Trịnh Đông A, [Nguyễn Đình Dung], Vũ Đình Khôi, Đào Ngọc Liễn, Đặng Minh Ngạc, Thái Quang Sa, Nguyễn Quang Thuyến
Trong khoảng thời gian này, tôi gặp được một nửa yêu thương - vợ tôi, đảng viên Nguyễn Thị Loan, người phụ nữ tuyệt vời - chúng tôi sống với nhau đã gần 30 năm mà vẫn như thuở ban đầu.
Con trai tôi - Vũ Tiến Nam - mới vào đội quân Z181... 
Con gái tôi - Vũ Quỳnh Anh - học Ngoại thương - Ngân hàng... làm việc tại Ngân hàng Quân đội...
Đơn vị khó quên: Nghĩa tình mênh mông.
Năm 1985, tôi được chuyển ra Văn phòng Tổng cục Điện tử và Kĩ thuật Tin học…
Năm 1989, tôi được chuyển sang Viện Công nghệ Vi điện tử, Viện Nghiên cứu Công nghệ Quốc gia…
40 năm ra trường, với Viện Kĩ thuật Quân sự,
30 năm với Z181… Bấy nhiêu Nghĩa Tình mênh mông trong Gia đình tôi.
Nhân kỉ niệm 30 năm thành lập Nhà máy, xin được bầy tỏ lòng biết ơn nghìn người của Z đã dành cho Gia đình tôi mênh mông Nghĩa Tình, bằng mấy vần thơ hò hẹn sau đây:

HẸN GẶP LẠI

Vạn mốt ngày[7] đã trôi qua
Z ta” thành lập để mà hôm nay
Gặp nhau thân ái nơi đây
Tặng nhau từng chuỗi chuyện hay, tiếng cười
Ba mươi năm đã qua rồi
Còn đây hay đã xa rời nhớ thương
Cả ngày vui chuyện vấn vương
Hẹn năm sau nhé, lại lên nơi này…
Hội Z181
Tháng 2009-2013


[1] Huyện Đại Từ, Thái Nguyên
[2] Cát Trù (Đất Lành, Trù Phú), Cẩm Khê (Suối Gấm), Phú Thọ (Giàu mạnh, Bền lâu)
[3] Thôn Tam Lộng, Thị xã Vĩnh Yên, nay là Học viện Kĩ thuật Quân sự
[4] Vũ Tiến Đức (Vật lí Chất rắn), [Nguyễn Quốc Thắng] (Vật lí Lí thuyết), [Lê Hoài Tuyên] (Vật lí Vô tuyến)
[5] Thủ trưởng [Ngô Đức Thọ] - Phó Viện trưởng kiêm Trưởng Phòng
[6] Датчик, Sensor, Capteur, 传感器
[7] 30 năm = 10.950 ngày

Flag Counter

VAZAI Bản Quyền

© 2013 – VAZAI VuTienDuc AZ AI. Bảo lưu mọi quyền.
Toàn bộ nội dung trên trang thuộc sở hữu của VAZAI VuTienDuc AZ AI, một số bài viết được biên soạn với sự hỗ trợ của các mô hình AI (CG AI PENTAGON). Vui lòng ghi rõ nguồn "VAZAI VuTienDuc AZ AI" và dẫn link gốc khi trích dẫn hoặc chia sẻ lại. Không sử dụng cho mục đích thương mại khi chưa có sự đồng ý bằng văn bản.